Truy cập

Hôm nay:
91
Hôm qua:
190
Tuần này:
91
Tháng này:
5402
Tất cả:
111244

Phương án sản xuất vụ đông

Ngày 11/09/2019 14:23:07

Phương án sản xuất Vụ Đông năm 2018-2019 được UBND huyện triển khai sớm; căn cứ vào Phương án của huyện, UBND xã đã xây dựng phương án cụ thể với các giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất.

UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

XÃ THIỆU DUY Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: /PA-UBND Thiệu Duy, ngày tháng năm 2019

PHƯƠNG ÁN

SẢN XUẤT VỤ ĐÔNG 2019 – 2020

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SẢN XUẤT VỤ ĐÔNG NĂM 2018-2019

I. Kết quả sản xuất vụ Đông năm 2018-2019

1. Thuận lợi và khó khăn

1.1. Thuận lợi

Phương án sản xuất Vụ Đông năm 2018-2019 được UBND huyện triển khai sớm; căn cứ vào Phương án của huyện, UBND xã đã xây dựng phương án cụ thể với các giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất.

Thị trường tiêu thụ các cây trồng vụ Đông khá thuận lợi, giá các sản phẩm vụ Đông đặc biệt rau đậu đều tăng cao có lợi cho người sản xuất, nhu cầu tiêu thụ có xung hướng tăng, nhất là các cây có lợi thế như ớt, dưa, khoai tây.

Vụ Đông năm 2018 - 2019 có điều kiện thời tiết tại thời điểm giữa và cuối vụ tương đối thuận lợi cho sinh trưởng phát triển các cây trồng.

1.2. Khó khăn

Đầu vụ Đông 2018 - 2019 diễn ra trong điều kiện thời tiết ở đầu vụ không thuận lợi. Mưa lũ cuối tháng 8, đầu tháng 9 năm 2018 làm cho đất bị ướt, làm chậm thời vụ một số cây vụ Đông sớm như ngô, đậu tương.

Công tác cải tạo đồng ruộng, thủy lợi và giao thông nội đồng, dồn ruộng theo đề án, tích tụ đất đai theo nhóm hộ được thực hiện ở các thôn: Đông Mỹ; Đông Hòa; Phú Điền và Cự Khánh đã ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch cũng như diện tích gieo trồng cây màu vụ đông của xã. Chỉ tập chung chỉ đạo gieo trồng cây màu vụ đông ở các thôn: Khánh Hội và 2 thôn Xử Nhân. Trong khi tâm lý lo lắng bị thiệt hại của bà con nông dân do thời tiết mưa lụt, lao động thiếu.

Việc ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất vụ Đông còn hạn chế, đặc biệt là khâu làm đất trên đất 2 lúa, trong lúc lực lượng lao động nông thôn đang có xu hướng chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp may mặc, thương mại,... có thu nhập cao hơn.

Diện tích vụ Đông khó mở rộng tại các thôn chưa có truyền thống làm vụ Đông. Doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm trồng trọt vẫn thiếu, chưa có nhiều thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa vụ Đông.

2. Kết quả đạt được:

Sản xuất Vụ đông năm 2018 - 2019, toàn xã gieo trồng được tổng diện tích là: 7,35 ha Ngô, đạt 56% kế hoạch.

Phần thứ hai

PHƯƠNG ÁN SẢN XUẤT VỤ ĐÔNG 2019 - 2020.

I. Tình hình sản xuất vụ mùa 2019 và những biện pháp tiếp theo.

1. Tình hình sản xuất vụ thu mùa 2019

Tổng diện tích gieo trồng vụ thu mùa 2019 toàn xã đến nay là 487,95 ha lúa đạt 93,46 % kế hoạch; Diện tích bỏ hoang 34,12 ha ( chủ yếu là vùng sâu chủng), tập trung tại các thôn: Xử Nhân 1:18,093 ha; Xử Nhân 2: 13,005 ha; Đông Mỹ: 1,52 ha; Phú Điền: 1,5 ha. Diện tích này một phần nằm trong diện tích đề nghị chuyển đổi từ sản xuất lúa khó khăn sang mô hình lúa cá và các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao của các thôn.

Để có quỹ đất gieo trồng các loại cây vụ đông 2019-2020, vụ mùa 2019 toàn xã đã chỉ đạo hướng dẫn cho nhân dân gieo trồng sớm hơn so với cùng kỳ từ 5-10 ngày, được chia làm hai trà chính: Trà mùa sớm: 10- 20% tổng diện tích, đây là diện tích quỹ đất gieo trồng cây màu vụ đông. Diện tích này lúa trỗ từ ngày 5 -15/8, dự kiến thu hoạch 01-10/9. Nhìn chung phần lớn các thôn thực hiện tốt theo hướng dẫn của xã về cơ cấu giống chủ lực và thời vụ gieo cấy, ưu tiên các giống ngắn ngày có năng suất và chất lượng cao, mỗi thôn chỉ gieo trồng từ 3-4 giống theo hướng tập trung quy mô lớn, tạo quỹ đất cho gieo trồng vụ đông. Tuy nhiên một số thôn việc chỉ đạo nhân dân gieo cấy vẫn còn chậm hơn so với lịch thời vụ của xã như xã 2 thôn Xử Nhân làm ảnh hưởng tới tiến độ gieo trồng, và mục tiêu chung của xã.

Điều kiện thời tiết, khí hậu vụ mùa năm 2019 diễn biết phức tạp, đầu vụ nắng nóng ảnh hưởng xấu đến quá trình gieo mạ của nhân dân, một số diện tích mạ sau khi gieo bị chết phải tiến hành gieo mạ lần 2. Giai đoạn lúa đẻ nhánh thời tiết nắng nóng kéo dài kết hợp hạn hán cục bộ làm ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và khả năng đẻ nhánh của cây lúa. Do ảnh hưởng mưa, gió của cơn bão số 3 làm một số diện tích lúa bị nhiễm bệnh bạc lá và đốm sọc vi khuẩn khi đang vào giai đoạn làm đòng. Theo dự báo của Trung tâm khí tượng thuỷ văn Trung ương từ nay tới cuối vụ diễn biến thời tiết bất thuận cho cây lúa vào các giai đoạn trỗ, chín và thu hoạch. Tháng 8 tại khu vực Bắc trung Bộ có khả năng xảy ra nắng nóng gay gắt. Từ tháng 9 đến tháng 10, bão và áp thấp nhiệt đới có khả năng ảnh hưởng chủ yếu đến khu vực Trung Bộ.

Tình hình sâu bệnh thời gian tới: Trên cây lúa, từ đầu vụ đến nay các loại sâu bệnh ở mức an toàn so với cùng kỳ, gây hại các loại sâu bệnh chưa đến ngưỡng để xử lý thuốc BVTV. Theo dự báo của Trạm BVTV từ nay đến cuối vụ cần tiếp tục theo dõi bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn, rầy nâu rầy lưng trắng và sâu đục thân hai chấm trà cuối vụ ở các đơn vị cấy muộn.

2. Nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến cuối vụ mùa 2019

Tập trung chỉ đạo công tác phòng trừ sâu bệnh cuối vụ, cần tăng cường kiểm tra thăm đồng để phát hiện, dự tính, dự báo, đồng thời phổ biến, hướng dẫn bà con nông dân phòng trừ kịp thời và hiệu quả, bảo vệ an toàn cho cây trồng vụ mùa.

Tổ chức đánh giá, năng suất, sản lượng cây trồng; đánh giá hiệu quả các mô hình tổ chức sản xuất trên địa bàn, đánh giá kết quả và bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo điều hành sản xuất, nhất là chỉ đạo gieo cấy đúng thời vụ và cơ cấu giống.

Chỉ đạo thu hoạch nhanh gọn lúa mùa các loại cây trồng khác để tránh thiên tại cuối vụ giảm nhẹ tổn thất trong quá trình thu hoạch phơi sấy; đồng thời tạo điều kiện giải phóng đất để gieo trồng vụ đông 2019-2020.

II. Kế hoạch sản xuất vụ đông 2019 - 2020

1. Những thuận lợi và khó khăn.

1.1. Thuận lợi:

Trà lúa vụ Thu mùa dự kiến thu hoạch sớm hơn so với cùng kỳ từ 5 – 10 ngày, là điều kiện thuận lợi để cơ cấu, gieo trồng các loại cây ưa ấm như ngô, đậu tương,…sớm hơn đạt năng suất cao.

Công tác chỉ đạo, điều hành và kinh nghiệm tổ chức sản xuất của các cấp, các ngành và nhận thức ngày càng cao của bà con nông dân trong việc thực hiện các giải pháp để sản xuất đạt hiệu quả cao.

Các chương trình, dự án, đề án cùng với cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản xuất của nhà nước, của doanh nghiệp tạo động lực phát triển cho sản xuất nói chung, vụ đông 2019 - 2020 nói riêng.

Các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn ngày càng hoàn thiện và đang phát huy hiệu quả tốt.

Qua nhiều năm sản xuất, đã khẳng định được bộ giống ngô, giống các loại rau màu chủ lực, có năng suất cao, phù hợp với tập quán canh tác và đồng đất của xã.

Nhân dân trong xã có truyền thống và kinh nghiệm thâm canh các loại cây trồng vụ đông, đồng thời từ kết quả sản xuất cây ngô và các loại cây trồng xuất khẩu trên đất 2 lúa ở vụ đông 2018 - 2019.

Các vùng liên kết sản xuất có bao tiêu sản phẩm đang phát huy tác dụng tốt, hiệu quả sản xuất cao hơn đại trà từ 1,5 - 2 lần. Đây là động lực để xã triển khai chỉ đạo mở rộng sản xuất ngô ngọt, ngô sinh khối, khoai tây, ớt xuất khẩu, đậu tương rau,... trong vụ đông.

1.2. Khó khăn:

Hiệu quả kinh tế của các cây trồng truyền thống trong sản xuất vụ đông còn thấp chưa thu hút được lực lượng lao động chính, lao động có trình độ kỹ thuật trong nhân dân tham gia vào lao động sản xuất. Một số địa phương nhân dân đi làm ăn xa ảnh hưởng lớn đến lao động thời vụ.

Thời tiết có thể diễn biến phức tạp, khó lường, theo dự báo của Trung tâm khí tượng thủy văn Trung ương thì năm 2019 khả năng sẽ có mưa lớn tập trung, cục bộ ở cuối vụ mùa và đầu vụ đông. Đây là một trong những khó khăn lớn nhất trong công tác tổ chức triển khai sản xuất ở vụ đông năm 2019 - 2020.

Chăn nuôi trong các hộ gia đình thu hẹp, lượng phân chuồng cho cây trồng vụ đông giảm dần, nhu cầu sản phẩm ngô đông cho chăn nuôi giảm.

2. Mục tiêu:

Không chú trọng mở rộng diện tích mà tập trung thâm canh các cây trồng có giá trị kinh tế cao, có đầu ra ổn định.Đẩy mạnh tái cơ cấu cây trồng theo định hướng chỉ đạo của Tỉnh và huyện, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống, đa dạng hoá cây trồng, tăng cường đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như: Ngô ngọt, khoai tây, ớt xuất khẩu... vào sản xuất gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm – Liên kết với các doanh nghiệp sản xuất và bao tiêu sản phẩm, nhằm nâng cao giá trị thu nhập của vụ đông, mở rộng diện tích sản xuất các loại rau đậu áp dụng các quy trình sản xuất an toàn, quy trình thực hành nông nghiệp tốt VietGAP GlobalGAP…nhằm tăng thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác.

Xây dựng phương án sản xuất trên cơ sở rà soát quy hoạch các vùng sản xuất tập trung, đảm bảo năng suất, chất lượng, có đầu ra, có giá trị kinh tế cao, dễ bảo quản, có ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm để nâng cao hiệu quả sản xuất.Bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng giữa nhóm cây ưa ấm và nhóm cây ưa lạnh.

Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, thúc đẩy phát triển chăn nuôi, góp phần tích cực hoàn thành bền vững các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Chỉ tiêu: Tổng diện tích gieo trồng: 60 ha. Trong đó:

- Tổng diện tích ngô: 30 ha

+ Cây ngô lấy hạt: 30 ha, NSBQ: 50 tạ/ha, Sản lượng: 1500 tấn.

+ Cây ngô ngọt, ngô nếp: 5 ha.

- Cây ớt đông: 2 ha.

- Cây khoai tây: 3 ha.

- Khoai lang: 10 ha.

- Rau, màu các loại: 15 ha. Trong đó có các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như: Cải bắp, xu hào, dưa các loại, bí xanh, cà chua, hành, kiệu...

3. Giải pháp thực hiện:

3.1. Quỹ đất:

Đối với quỹ đất màu và bãi: Các thôn có quỹ đất chuyên màu, đất bãi sau khi thu hoạch các loại cây trồng vụ thu phải chỉ đạo nhân dân khẩn trương gieo trồng các loại cây trồng vụ đông đảm bảo cơ cấu, đúng thời vụ.

Đối với đất 2 lúa: Chân đất trà mùa sớm 2019 dự kiến sẽ thu hoạch từ 05 – 10/9/2019 tạo quỹ đất cho gieo trồng cây ngô và cây đậu tương, các cây ưa ấm,...

Căn cứ chỉ tiêu diện tích của xã giao, các thôn quy hoạch vùng sản xuất tập trung cho từng loại cây trồng, thông báo và động viên các hộ gia đình có điều kiện tích tụ ruộng đất sản xuất vụ đông đạt hiệu quả.

3.2. Cơ cấu giống và thời vụ:

a) Cơ cấu giống:

- Giống ngô: P4199, CP333, P4296, DK6919S, DK9955, CP511, PAC 339, VN5885, LVN092, NK7328, PSC747, ngô ngọt, ngô nếp tím Fancy111, và một số giống ngô nếp hàng hoá ngắn ngày.

- Khoai tây: Marabel, Solara, Atlantic.

- Ớt đông: F20, F22, AD79, F1-106, F1-108, F1 Demon..

- Các loại cây trồng có giá trị cao: Bí xanh, xu hào, bắp cải, cải củ, cà chua, hành, kiệu… Cần chọn các giống có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện thâm canh và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

b) Thời vụ:

- Cây ngô:

+ Trên đất chuyên màu, đất bãi dùng các giống dài ngày và trung ngày, gieo từ ngày 05 ÷ 15/9/2019.

+ Trên đất 2 lúa, gieo từ 10/9 ÷ 30/9/2019.

- Cây khoai tây:

+ Khoai tây Đông: trồng từ 25/10 ÷ 25/11/2019.

+ Khoai tây đông xuân (đông muộn - xuân sớm): Trồng từ 25/11 ÷ 01/12/2019. Lưu ý: Muộn nhất phải trồng xong trước ngày 05/12/2019.

- Cây trồng khác: Sau khi kết thúc gieo trồng cây ngô và cây đậu tương theo lịch thời vụ, các thôn tiếp tục chỉ đạo nhân dân gieo trồng các loại cây rau màu theo lịch thời vụ.

Các thôn cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo huy động tối đa lực lượng lao động và phương tiện cơ giới, vừa tập trung thu hoạch vụ mùa vừa tổ chức gieo trồng các cây vụ đông, thực hiện phương châm: “Sáng ruộng lúa, chiều cây vụ đông”.

3.3- Cung ứng và quản lý giống:

a) Cung ứng giống:

HTX DVNN chủ động ký hợp đồng cụ thể với trạm khuyến nông và các công ty, đơn vị cung ứng giống để có đủ giống, đúng cơ cấu, đúng thời vụ đảm bảo chất lượng cho nông dân, hạn chế việc nông dân mua giống ngoài thị trường tự do, giống không rõ nguồn gốc.

b) Công tác quản lý nhà nước:

UBND xã ban hành quyết định thành lập đoàn kiểm tra, quản lý các đại lý cung ứng giống trên địa bàn. Xử lý nghiêm đối với những hộ không có đủ điều kiện kinh doanh, buôn bán giống để đảm bảo chất lượng nguồn giống đầu vào sản xuất.

3.4- Giải pháp kỹ thuật:

Ưu tiên các vùng đất cao, đất tốt, dễ thoát nước để gieo trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như ớt xuất khẩu, ngô ngọt, đậu tương rau, khoai tây,...

HTX NN; khuyến nông viên tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn cho nông dân kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc các loại cây trồng vụ đông, nhất là các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao – Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và sử dụng phân hữu cơ sinh học để giảm chi phí đầu vào nâng cao năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả sản xuất vụ đông.

HTX NN cùng với khuyến nông viên cơ sở tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng làm tốt công tác dự tính, dự báo về tình hình sâu bệnh, phun thuốc đúng định kỳ phòng, trừ triệt để, không để sâu bệnh phát sinh ra diện rộng gây thiệt hại đến kết quả sản xuất, nhất là sâu bệnh trên các loại cây trồng xuất khẩu.

3.5. Giải pháp thủy lợi:

HTX NN phối hợp với chi nhánh thủy nông tả Thiệu Hóa đảm bảo đủ nước tưới cho cây trồng vụ đông 2019 – 2020 sinh trưởng phát triển trong những giai đoạn cần thiết; kịp thời tiêu úng khi có mưa lớn xảy ra.

3.6. Vốn:

Đề nghị Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT tạo điều kiện cho HTX NN vay đủ vốn kịp thời để mua giống và vật tư cung ứng cho nông dân đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất.

3.7. Cơ chế chính sách hỗ trợ:

- Thực hiện tốt cơ chế, chính sách hỗ trợ kích cầu vụ đông 2019 - 2020 Của UBND tỉnh (nếu có).

- Chính sách Tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh giai đoạn 2015 - 2020: Thực hiện theo Quyết định số 5643/2015/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của UBND Tỉnh Thanh Hóa về việc ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016 - 2020 của Tỉnh.

4. Tổ chức thực hiện:

Triển khai sản xuất vụ đông 2019 - 2020 là nhiệm vụ trọng tâm trong quý IV năm 2019, do thời vụ sản xuất vụ đông hết sức nghiêm ngặt, cùng với một số khó khăn tác động, nhất là điều kiện thời tiết bất thuận nên cơ sở phải thành lập tiểu ban chỉ đạo sản xuất vụ đông, đảm bảo việc chỉ đạo vụ đông 2019 - 2020 thắng lợi.

Trên cơ sở phương án sản xuất của xã, các thôn xây dựng và triển khai kế hoạch sản xuất vụ đông 2019 - 2020 của đơn vị mình xong trước ngày 30/8/2019, các chỉ tiêu kế hoạch diện tích không được thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch xã giao, đồng thời phải thành lập Ban chỉ đạo sản xuất vụ đông 2019 - 2020 và đề ra các giải pháp cụ thể, có tính khả thi để hoàn thành chỉ tiêu nhiệm vụ.

Các ban ngành đoàn thể; các thành viên BCĐ có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được phân công bám sát phương án sản xuất của xã xây dựng chương trình, kế hoạch phục vụ và chỉ đạo có hiệu quả sản xuất vụ đông.

Để thực hiện thắng lợi phương án sản xuất vụ đông 2019 - 2020 góp phần hoàn thành mục tiêu lương thực cả năm 2020. Đề nghị các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội tăng cường sự lãnh đạo làm tốt công tác tuyên truyền động viên đoàn viên, hội viên và nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất quyết tâm hoàn thành kế hoạch đề ra.

Nơi nhận: KT. CHỦ TỊCH

- TT Đảng ủy, HĐND, UBND (theo dõi, chỉ đạo); PHÓ. CHỦ TỊCH

- Các thành viên BCĐ;

- HTX NN, các thôn; (t/hiện)

- Lưu vp.

Nguyễn Duy Cam

Phương án sản xuất vụ đông

Đăng lúc: 11/09/2019 14:23:07 (GMT+7)

Phương án sản xuất Vụ Đông năm 2018-2019 được UBND huyện triển khai sớm; căn cứ vào Phương án của huyện, UBND xã đã xây dựng phương án cụ thể với các giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất.

UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

XÃ THIỆU DUY Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: /PA-UBND Thiệu Duy, ngày tháng năm 2019

PHƯƠNG ÁN

SẢN XUẤT VỤ ĐÔNG 2019 – 2020

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SẢN XUẤT VỤ ĐÔNG NĂM 2018-2019

I. Kết quả sản xuất vụ Đông năm 2018-2019

1. Thuận lợi và khó khăn

1.1. Thuận lợi

Phương án sản xuất Vụ Đông năm 2018-2019 được UBND huyện triển khai sớm; căn cứ vào Phương án của huyện, UBND xã đã xây dựng phương án cụ thể với các giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất.

Thị trường tiêu thụ các cây trồng vụ Đông khá thuận lợi, giá các sản phẩm vụ Đông đặc biệt rau đậu đều tăng cao có lợi cho người sản xuất, nhu cầu tiêu thụ có xung hướng tăng, nhất là các cây có lợi thế như ớt, dưa, khoai tây.

Vụ Đông năm 2018 - 2019 có điều kiện thời tiết tại thời điểm giữa và cuối vụ tương đối thuận lợi cho sinh trưởng phát triển các cây trồng.

1.2. Khó khăn

Đầu vụ Đông 2018 - 2019 diễn ra trong điều kiện thời tiết ở đầu vụ không thuận lợi. Mưa lũ cuối tháng 8, đầu tháng 9 năm 2018 làm cho đất bị ướt, làm chậm thời vụ một số cây vụ Đông sớm như ngô, đậu tương.

Công tác cải tạo đồng ruộng, thủy lợi và giao thông nội đồng, dồn ruộng theo đề án, tích tụ đất đai theo nhóm hộ được thực hiện ở các thôn: Đông Mỹ; Đông Hòa; Phú Điền và Cự Khánh đã ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch cũng như diện tích gieo trồng cây màu vụ đông của xã. Chỉ tập chung chỉ đạo gieo trồng cây màu vụ đông ở các thôn: Khánh Hội và 2 thôn Xử Nhân. Trong khi tâm lý lo lắng bị thiệt hại của bà con nông dân do thời tiết mưa lụt, lao động thiếu.

Việc ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất vụ Đông còn hạn chế, đặc biệt là khâu làm đất trên đất 2 lúa, trong lúc lực lượng lao động nông thôn đang có xu hướng chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp may mặc, thương mại,... có thu nhập cao hơn.

Diện tích vụ Đông khó mở rộng tại các thôn chưa có truyền thống làm vụ Đông. Doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm trồng trọt vẫn thiếu, chưa có nhiều thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa vụ Đông.

2. Kết quả đạt được:

Sản xuất Vụ đông năm 2018 - 2019, toàn xã gieo trồng được tổng diện tích là: 7,35 ha Ngô, đạt 56% kế hoạch.

Phần thứ hai

PHƯƠNG ÁN SẢN XUẤT VỤ ĐÔNG 2019 - 2020.

I. Tình hình sản xuất vụ mùa 2019 và những biện pháp tiếp theo.

1. Tình hình sản xuất vụ thu mùa 2019

Tổng diện tích gieo trồng vụ thu mùa 2019 toàn xã đến nay là 487,95 ha lúa đạt 93,46 % kế hoạch; Diện tích bỏ hoang 34,12 ha ( chủ yếu là vùng sâu chủng), tập trung tại các thôn: Xử Nhân 1:18,093 ha; Xử Nhân 2: 13,005 ha; Đông Mỹ: 1,52 ha; Phú Điền: 1,5 ha. Diện tích này một phần nằm trong diện tích đề nghị chuyển đổi từ sản xuất lúa khó khăn sang mô hình lúa cá và các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao của các thôn.

Để có quỹ đất gieo trồng các loại cây vụ đông 2019-2020, vụ mùa 2019 toàn xã đã chỉ đạo hướng dẫn cho nhân dân gieo trồng sớm hơn so với cùng kỳ từ 5-10 ngày, được chia làm hai trà chính: Trà mùa sớm: 10- 20% tổng diện tích, đây là diện tích quỹ đất gieo trồng cây màu vụ đông. Diện tích này lúa trỗ từ ngày 5 -15/8, dự kiến thu hoạch 01-10/9. Nhìn chung phần lớn các thôn thực hiện tốt theo hướng dẫn của xã về cơ cấu giống chủ lực và thời vụ gieo cấy, ưu tiên các giống ngắn ngày có năng suất và chất lượng cao, mỗi thôn chỉ gieo trồng từ 3-4 giống theo hướng tập trung quy mô lớn, tạo quỹ đất cho gieo trồng vụ đông. Tuy nhiên một số thôn việc chỉ đạo nhân dân gieo cấy vẫn còn chậm hơn so với lịch thời vụ của xã như xã 2 thôn Xử Nhân làm ảnh hưởng tới tiến độ gieo trồng, và mục tiêu chung của xã.

Điều kiện thời tiết, khí hậu vụ mùa năm 2019 diễn biết phức tạp, đầu vụ nắng nóng ảnh hưởng xấu đến quá trình gieo mạ của nhân dân, một số diện tích mạ sau khi gieo bị chết phải tiến hành gieo mạ lần 2. Giai đoạn lúa đẻ nhánh thời tiết nắng nóng kéo dài kết hợp hạn hán cục bộ làm ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và khả năng đẻ nhánh của cây lúa. Do ảnh hưởng mưa, gió của cơn bão số 3 làm một số diện tích lúa bị nhiễm bệnh bạc lá và đốm sọc vi khuẩn khi đang vào giai đoạn làm đòng. Theo dự báo của Trung tâm khí tượng thuỷ văn Trung ương từ nay tới cuối vụ diễn biến thời tiết bất thuận cho cây lúa vào các giai đoạn trỗ, chín và thu hoạch. Tháng 8 tại khu vực Bắc trung Bộ có khả năng xảy ra nắng nóng gay gắt. Từ tháng 9 đến tháng 10, bão và áp thấp nhiệt đới có khả năng ảnh hưởng chủ yếu đến khu vực Trung Bộ.

Tình hình sâu bệnh thời gian tới: Trên cây lúa, từ đầu vụ đến nay các loại sâu bệnh ở mức an toàn so với cùng kỳ, gây hại các loại sâu bệnh chưa đến ngưỡng để xử lý thuốc BVTV. Theo dự báo của Trạm BVTV từ nay đến cuối vụ cần tiếp tục theo dõi bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn, rầy nâu rầy lưng trắng và sâu đục thân hai chấm trà cuối vụ ở các đơn vị cấy muộn.

2. Nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến cuối vụ mùa 2019

Tập trung chỉ đạo công tác phòng trừ sâu bệnh cuối vụ, cần tăng cường kiểm tra thăm đồng để phát hiện, dự tính, dự báo, đồng thời phổ biến, hướng dẫn bà con nông dân phòng trừ kịp thời và hiệu quả, bảo vệ an toàn cho cây trồng vụ mùa.

Tổ chức đánh giá, năng suất, sản lượng cây trồng; đánh giá hiệu quả các mô hình tổ chức sản xuất trên địa bàn, đánh giá kết quả và bài học kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo điều hành sản xuất, nhất là chỉ đạo gieo cấy đúng thời vụ và cơ cấu giống.

Chỉ đạo thu hoạch nhanh gọn lúa mùa các loại cây trồng khác để tránh thiên tại cuối vụ giảm nhẹ tổn thất trong quá trình thu hoạch phơi sấy; đồng thời tạo điều kiện giải phóng đất để gieo trồng vụ đông 2019-2020.

II. Kế hoạch sản xuất vụ đông 2019 - 2020

1. Những thuận lợi và khó khăn.

1.1. Thuận lợi:

Trà lúa vụ Thu mùa dự kiến thu hoạch sớm hơn so với cùng kỳ từ 5 – 10 ngày, là điều kiện thuận lợi để cơ cấu, gieo trồng các loại cây ưa ấm như ngô, đậu tương,…sớm hơn đạt năng suất cao.

Công tác chỉ đạo, điều hành và kinh nghiệm tổ chức sản xuất của các cấp, các ngành và nhận thức ngày càng cao của bà con nông dân trong việc thực hiện các giải pháp để sản xuất đạt hiệu quả cao.

Các chương trình, dự án, đề án cùng với cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản xuất của nhà nước, của doanh nghiệp tạo động lực phát triển cho sản xuất nói chung, vụ đông 2019 - 2020 nói riêng.

Các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn ngày càng hoàn thiện và đang phát huy hiệu quả tốt.

Qua nhiều năm sản xuất, đã khẳng định được bộ giống ngô, giống các loại rau màu chủ lực, có năng suất cao, phù hợp với tập quán canh tác và đồng đất của xã.

Nhân dân trong xã có truyền thống và kinh nghiệm thâm canh các loại cây trồng vụ đông, đồng thời từ kết quả sản xuất cây ngô và các loại cây trồng xuất khẩu trên đất 2 lúa ở vụ đông 2018 - 2019.

Các vùng liên kết sản xuất có bao tiêu sản phẩm đang phát huy tác dụng tốt, hiệu quả sản xuất cao hơn đại trà từ 1,5 - 2 lần. Đây là động lực để xã triển khai chỉ đạo mở rộng sản xuất ngô ngọt, ngô sinh khối, khoai tây, ớt xuất khẩu, đậu tương rau,... trong vụ đông.

1.2. Khó khăn:

Hiệu quả kinh tế của các cây trồng truyền thống trong sản xuất vụ đông còn thấp chưa thu hút được lực lượng lao động chính, lao động có trình độ kỹ thuật trong nhân dân tham gia vào lao động sản xuất. Một số địa phương nhân dân đi làm ăn xa ảnh hưởng lớn đến lao động thời vụ.

Thời tiết có thể diễn biến phức tạp, khó lường, theo dự báo của Trung tâm khí tượng thủy văn Trung ương thì năm 2019 khả năng sẽ có mưa lớn tập trung, cục bộ ở cuối vụ mùa và đầu vụ đông. Đây là một trong những khó khăn lớn nhất trong công tác tổ chức triển khai sản xuất ở vụ đông năm 2019 - 2020.

Chăn nuôi trong các hộ gia đình thu hẹp, lượng phân chuồng cho cây trồng vụ đông giảm dần, nhu cầu sản phẩm ngô đông cho chăn nuôi giảm.

2. Mục tiêu:

Không chú trọng mở rộng diện tích mà tập trung thâm canh các cây trồng có giá trị kinh tế cao, có đầu ra ổn định.Đẩy mạnh tái cơ cấu cây trồng theo định hướng chỉ đạo của Tỉnh và huyện, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống, đa dạng hoá cây trồng, tăng cường đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như: Ngô ngọt, khoai tây, ớt xuất khẩu... vào sản xuất gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm – Liên kết với các doanh nghiệp sản xuất và bao tiêu sản phẩm, nhằm nâng cao giá trị thu nhập của vụ đông, mở rộng diện tích sản xuất các loại rau đậu áp dụng các quy trình sản xuất an toàn, quy trình thực hành nông nghiệp tốt VietGAP GlobalGAP…nhằm tăng thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác.

Xây dựng phương án sản xuất trên cơ sở rà soát quy hoạch các vùng sản xuất tập trung, đảm bảo năng suất, chất lượng, có đầu ra, có giá trị kinh tế cao, dễ bảo quản, có ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm để nâng cao hiệu quả sản xuất.Bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng giữa nhóm cây ưa ấm và nhóm cây ưa lạnh.

Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, thúc đẩy phát triển chăn nuôi, góp phần tích cực hoàn thành bền vững các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Chỉ tiêu: Tổng diện tích gieo trồng: 60 ha. Trong đó:

- Tổng diện tích ngô: 30 ha

+ Cây ngô lấy hạt: 30 ha, NSBQ: 50 tạ/ha, Sản lượng: 1500 tấn.

+ Cây ngô ngọt, ngô nếp: 5 ha.

- Cây ớt đông: 2 ha.

- Cây khoai tây: 3 ha.

- Khoai lang: 10 ha.

- Rau, màu các loại: 15 ha. Trong đó có các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như: Cải bắp, xu hào, dưa các loại, bí xanh, cà chua, hành, kiệu...

3. Giải pháp thực hiện:

3.1. Quỹ đất:

Đối với quỹ đất màu và bãi: Các thôn có quỹ đất chuyên màu, đất bãi sau khi thu hoạch các loại cây trồng vụ thu phải chỉ đạo nhân dân khẩn trương gieo trồng các loại cây trồng vụ đông đảm bảo cơ cấu, đúng thời vụ.

Đối với đất 2 lúa: Chân đất trà mùa sớm 2019 dự kiến sẽ thu hoạch từ 05 – 10/9/2019 tạo quỹ đất cho gieo trồng cây ngô và cây đậu tương, các cây ưa ấm,...

Căn cứ chỉ tiêu diện tích của xã giao, các thôn quy hoạch vùng sản xuất tập trung cho từng loại cây trồng, thông báo và động viên các hộ gia đình có điều kiện tích tụ ruộng đất sản xuất vụ đông đạt hiệu quả.

3.2. Cơ cấu giống và thời vụ:

a) Cơ cấu giống:

- Giống ngô: P4199, CP333, P4296, DK6919S, DK9955, CP511, PAC 339, VN5885, LVN092, NK7328, PSC747, ngô ngọt, ngô nếp tím Fancy111, và một số giống ngô nếp hàng hoá ngắn ngày.

- Khoai tây: Marabel, Solara, Atlantic.

- Ớt đông: F20, F22, AD79, F1-106, F1-108, F1 Demon..

- Các loại cây trồng có giá trị cao: Bí xanh, xu hào, bắp cải, cải củ, cà chua, hành, kiệu… Cần chọn các giống có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện thâm canh và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

b) Thời vụ:

- Cây ngô:

+ Trên đất chuyên màu, đất bãi dùng các giống dài ngày và trung ngày, gieo từ ngày 05 ÷ 15/9/2019.

+ Trên đất 2 lúa, gieo từ 10/9 ÷ 30/9/2019.

- Cây khoai tây:

+ Khoai tây Đông: trồng từ 25/10 ÷ 25/11/2019.

+ Khoai tây đông xuân (đông muộn - xuân sớm): Trồng từ 25/11 ÷ 01/12/2019. Lưu ý: Muộn nhất phải trồng xong trước ngày 05/12/2019.

- Cây trồng khác: Sau khi kết thúc gieo trồng cây ngô và cây đậu tương theo lịch thời vụ, các thôn tiếp tục chỉ đạo nhân dân gieo trồng các loại cây rau màu theo lịch thời vụ.

Các thôn cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo huy động tối đa lực lượng lao động và phương tiện cơ giới, vừa tập trung thu hoạch vụ mùa vừa tổ chức gieo trồng các cây vụ đông, thực hiện phương châm: “Sáng ruộng lúa, chiều cây vụ đông”.

3.3- Cung ứng và quản lý giống:

a) Cung ứng giống:

HTX DVNN chủ động ký hợp đồng cụ thể với trạm khuyến nông và các công ty, đơn vị cung ứng giống để có đủ giống, đúng cơ cấu, đúng thời vụ đảm bảo chất lượng cho nông dân, hạn chế việc nông dân mua giống ngoài thị trường tự do, giống không rõ nguồn gốc.

b) Công tác quản lý nhà nước:

UBND xã ban hành quyết định thành lập đoàn kiểm tra, quản lý các đại lý cung ứng giống trên địa bàn. Xử lý nghiêm đối với những hộ không có đủ điều kiện kinh doanh, buôn bán giống để đảm bảo chất lượng nguồn giống đầu vào sản xuất.

3.4- Giải pháp kỹ thuật:

Ưu tiên các vùng đất cao, đất tốt, dễ thoát nước để gieo trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như ớt xuất khẩu, ngô ngọt, đậu tương rau, khoai tây,...

HTX NN; khuyến nông viên tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn cho nông dân kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc các loại cây trồng vụ đông, nhất là các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao – Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và sử dụng phân hữu cơ sinh học để giảm chi phí đầu vào nâng cao năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả sản xuất vụ đông.

HTX NN cùng với khuyến nông viên cơ sở tăng cường công tác kiểm tra đồng ruộng làm tốt công tác dự tính, dự báo về tình hình sâu bệnh, phun thuốc đúng định kỳ phòng, trừ triệt để, không để sâu bệnh phát sinh ra diện rộng gây thiệt hại đến kết quả sản xuất, nhất là sâu bệnh trên các loại cây trồng xuất khẩu.

3.5. Giải pháp thủy lợi:

HTX NN phối hợp với chi nhánh thủy nông tả Thiệu Hóa đảm bảo đủ nước tưới cho cây trồng vụ đông 2019 – 2020 sinh trưởng phát triển trong những giai đoạn cần thiết; kịp thời tiêu úng khi có mưa lớn xảy ra.

3.6. Vốn:

Đề nghị Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT tạo điều kiện cho HTX NN vay đủ vốn kịp thời để mua giống và vật tư cung ứng cho nông dân đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất.

3.7. Cơ chế chính sách hỗ trợ:

- Thực hiện tốt cơ chế, chính sách hỗ trợ kích cầu vụ đông 2019 - 2020 Của UBND tỉnh (nếu có).

- Chính sách Tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh giai đoạn 2015 - 2020: Thực hiện theo Quyết định số 5643/2015/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của UBND Tỉnh Thanh Hóa về việc ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2016 - 2020 của Tỉnh.

4. Tổ chức thực hiện:

Triển khai sản xuất vụ đông 2019 - 2020 là nhiệm vụ trọng tâm trong quý IV năm 2019, do thời vụ sản xuất vụ đông hết sức nghiêm ngặt, cùng với một số khó khăn tác động, nhất là điều kiện thời tiết bất thuận nên cơ sở phải thành lập tiểu ban chỉ đạo sản xuất vụ đông, đảm bảo việc chỉ đạo vụ đông 2019 - 2020 thắng lợi.

Trên cơ sở phương án sản xuất của xã, các thôn xây dựng và triển khai kế hoạch sản xuất vụ đông 2019 - 2020 của đơn vị mình xong trước ngày 30/8/2019, các chỉ tiêu kế hoạch diện tích không được thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch xã giao, đồng thời phải thành lập Ban chỉ đạo sản xuất vụ đông 2019 - 2020 và đề ra các giải pháp cụ thể, có tính khả thi để hoàn thành chỉ tiêu nhiệm vụ.

Các ban ngành đoàn thể; các thành viên BCĐ có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được phân công bám sát phương án sản xuất của xã xây dựng chương trình, kế hoạch phục vụ và chỉ đạo có hiệu quả sản xuất vụ đông.

Để thực hiện thắng lợi phương án sản xuất vụ đông 2019 - 2020 góp phần hoàn thành mục tiêu lương thực cả năm 2020. Đề nghị các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội tăng cường sự lãnh đạo làm tốt công tác tuyên truyền động viên đoàn viên, hội viên và nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất quyết tâm hoàn thành kế hoạch đề ra.

Nơi nhận: KT. CHỦ TỊCH

- TT Đảng ủy, HĐND, UBND (theo dõi, chỉ đạo); PHÓ. CHỦ TỊCH

- Các thành viên BCĐ;

- HTX NN, các thôn; (t/hiện)

- Lưu vp.

Nguyễn Duy Cam